Ngộ độc cồn methanol

III. Xét nghiệm
1. Glucoza máu
- Với độc Ethanol và Methanol, bệnh nhân có thể hạ đường huyêt.
- Với độc isopropanol, bệnh nhân không tăng đường huyết. Điều này giúp phân biệt ngộ độc cồn với ketoacidosis do đái đường (DKA).

2. Điện giải, urê creatinin máu,
- Với độc Ethanol và Methanol, tìm kiếm tăng osmolal huyết thanh.
- Với độc Isopropanol cũng gây osmolal cao, có thể huyết áp thấp và nhiễm axit.
- Tăng giả mạo creatinin huyết thanh như một kết quả của aceton có thể thấy.
- Mức axit formic huyết thanh là một chỉ định tốt hơn của tính độc so với mức Methanol.
- Mức amylaza hay lipaza huyết thanh để phát hiện viêm tụy phối hợp.

3. Đếm máu
- Ethanol: tăng bạch cầu, thiếu máu, hoặc giảm tiểu cầu có thể có mặt. kết quả như vậy cũng thấy ở cá nhân với tệ nghiện rượu kinh niên.
- Methanol: Thiếu máu có thể có mặt.
- Isopropanol: thiếu máu huyết tán có thể xuất hiện trong trong trường hợp hiếm.

4. Thẩm thấu máu
- Ethanol tăng độ thẩm thấu 22 mOsm/ L cho mỗi 100 mg/ dL.
- Methanol tăng độ thẩm thấu 32 mOsm/ L cho mỗi 100 mg/ dL.
- Isopropanol tăng độ thẩm thấu 17 mOsm/ L cho mỗi 100 mg/ dL

5. Khí máu động mạch
- Methanol : Một nhiễm toan chuyển hóa với gap nặng là đặc trưng. Nhiễm axit nặng là dự báo tốt nhất khi tình trạng lâm sàng được xem xét.
- Isopropanol: bệnh nhân là không nhiễm acidotic.

6. Xét nghiệm nước tiểu
- Mùi của formđehyt.

7. Tác động của Methanol tại mức BAC khác nhau như sau:
- 0- 20 mg/dL - thường không triệu chứng
- 20- 50 mg/dL - được yêu cầu điều trị
- 150+ mg/dL - khả năng tử vong nếu không điều trị.
- Mức hơn 20 mg/dL được coi là độc và là mức hoạt tính (Tức là, khi điều trị cần phải được bắt đầu dựa vào mức này.)

IV. Điều trị
1. Trước nhập viện
- Giữ lại chai của chất đã tiêu thụ để giúp xác định loại rượu cồn.
- Xử trí tắc nghẽn đường thở, khi không tỉnh táo hay tình trạng biến đổi tinh thần.

2. HSCC
a, Xử trí chung
- Đảm bảo đường thở, đánh giá tuần hoàn và hỗ trợ khi cần thiết.
- Rửa dạ dày (sond Ewald) cố gắng trước 4 giờ sau uống
- Than hoạt không hấp thu rượu cồn tốt nhưng cần dùng một khi nghi ngờ đồ uống có pha trộn.
- Dùng naloxone nếu nghi dùng thuốc giảm đau.
- Dùng thiamin (100 mg) và gluco D50W ( 25- 50 G) IV cho bệnh nhân.

b, Xử trí riêng
+ Xử trí với Methanol
- Truyền dich và oxi, và bảo vệ đường thở.
- Tăng bài niệu; tuy nhiên, thẩm tách là việc làm tốt hơn và có ít nguy hiểm hơn đối với phù phổi, phù não hay hội chứng suy hô hấp nguy cấp (ARDS).
- Cố gắng sửa chữa tình trạng nhiễm axit bằng sử dụng bicacbonat khi độ pH <7.20
- Dùng axit folic (leucovorin) 50 IV mg cứ 4 giờ một lần cho vài ngày
- Truyền Ethanol được khuyến cáo cho bệnh nhân nghi ngờ uống và/ hoặc khi mức Methanol lớn hơn 20 mg/ dL.
. Ethanol là một chất ức chế cạnh tranh của dehidrogenaza cồn, do đó, làm suy yếu chuyển hóa của Methanol và glycol êtylen.
. Ethanol dehidrogenaza mạnh hơn 10- 20 lần so với Methanol. Biện pháp này tăng thời gian bán hủy tới xấp xỉ 40 giờ.
. Duy trì nồng độ Ethanol máu giữa 100- 150 mg/ dL. Mức này gây say với người không nghiện rượu; tăng cho người uống kinh niên.
. Ethanol có thể cho PO hay IV.
. Bắt đầu điều trị với một liều nạp 0.6- 0.8 g / Kg IV hay PO. mức duy trì điển hình hạn chế từ 0.8- 1.4 g/ Kg / H.
. Cho truyền với Ethanol 10% pha trong D5W, Liều tải là 10 mL/ Kg, và duy trì Là 1.6 mL/ Kg / H.
. Mục đích của điều trị là duy trì một nồng độ Ethanol huyết thanh hơn hay bằng 100 mg/ dL.
. Duy trì mức Ethanol này cho đến khi mức Methanol là thấp hơn 20 mg/ dL.
- 4 methylpyrazol
. Uống 15mg/kg liều đầu.
. 5mg/kg trong 12 giờsau.
. 10mg/kg tiêp cho đến khi hết triệu chứng và nồng độ tong máu.
- Lọc máu
. Có thể cần để loại bỏ Methanol và sản phẩm chuyển hóa độc của nó là formate.
. Càng sớm càng tốt, khi bắt đầu xuất hiện phù gai thị  triệu chứng thị giác suy thận, hay nồng độ huyết thanh Methanol hơn 50 mg/ dL
. Loc máu còn được khuyến cáo dùng cho trường hợp nhiễm axit nặng (Độ pH< 7.20) .

Thuốc
1. Ethanol - nhậy cảm hơn 10- 20 lần cho men dehidrogenaza cồn so với Methanol, giúp ngăn chặn sản xuất sản phẩm chuyển hóa độc.

2. Fomepizole (4- MP, Antizol)- - DOC cho glycol êtylen và độc Methanol, dễ an toàn hơn Ethanol. Trái ngược với Ethanol, 4- MP không yêu cầu theo dõi trong thời gian chữa bệnh.
Liều Tải: 15 mg/ Kg IV trong hơn 30 min
Liều duy trì: 10 mg/ Kg IV q12h (Cho) 4 liều và 15 mg / Kg IV q12h. Sau đó cho đến khi Methanol trong máu đã giảm đến mức an toàn.

3. Axit folic (Folvite) trong uống Methanol. Thành viên của vitamin B - Phức chất mà có thể tăng cường loại bỏ axit formic sản phẩm chuyển hóa độc khi Methanol được chuyển hóa.
Liều 50 mg IV q4- 6 H Tới nhịp độ tăng của chuyển hóa axit formic; leucovorin có thể được dùng liều 1- 2 mg/ Kg IV q4- 6 H

Về đầu

Về index